Trang chủ / Liên hệ
     
Tìm kiếm:
Tiếng việt / English
Ý kiến bạn đọc
100 bộ johkasou (JKS) - Kubota đến VN
Hoạt động của Hactra tại Nhật
Hoạt động của HACTRA.,JSC.
Sự kiện quốc tế về JKS
Dự án
Liên kết website
Online
Lượt truy cập thứ: 381461
Online: [ 43 ]
Thông tin trực tuyến
Giá vàng
Mua vào
Bán ra
Tỷ giá
 
Giới thiệu về JOHKASOU
Gần đây, các chuyên gia nghiên cứu về môi trường, dư luận xã hội đã lên tiếng nhiều tới vấn đề ô nhiễm môi trường và xử lý nước thải. Tại Nhật công nghệ xử lý nước thải Johkasou đã được ứng dụng từ nhiều năm nay và mang lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ môi trường. TS. Trần Phương Ðông (Bộ Tài nguyên & Môi trường), KS Ðỗ Tất Việt, Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Hà Nội (Hactra) - Chủ nhiệm dự án : “ứng dụng công nghệ Jokasou của nhật Bản vào việc xử lý nước thải sinh hoạt tại nguồn ở Việt Nam” sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về công nghệ này và khả năng ứng dụng của nó tại Việt Nam.
 
 
1. Johkasou tại Nhật Bản
 
Xí bệt lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật năm 1911 và trở nên phổ biến vào giữa thế kỷ 20. Ðồng thời trong thời gian này, Nhật trở thành một nước công nghiệp phát triển và thu hút một lượng lớn nhân lực từ vùng nông thôn ra thành thị. Nhu cầu về sử dụng phân chuồng cho sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm do sử dụng phân hóa học. Từ đó vấn đề vệ sinh môi trường ngày càng nổi cộm tại các khu vực dân cư đông đúc đã dẫn tới sự ra đời của “Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tại nguồn”, theo tiếng Nhật gọi là Johkasou (đọc là giô-ca-su, viết tắt là JKS) có nghĩa là “bể lọc”. Hai phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt tại nguồn (sử dụng JKS) và xử lý nước thải tập trung đang được ứng dụng song hành tại Nhật. Hiện nay 70% dân Nhật có hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, 23% (tức 28 triệu người) sử dụng hệ thống JKS, còn lại 7% dùng bể phốt.
 
 

Luật Johkasou
 
Luật JKS năm 1983 qui định việc sản xuất, lắp đặt, bảo trì và xử lý bùn lắng từ hệ thống JKS, đồng thời qui định việc đăng ký và cấp phép cho nhân viên lắp đặt, bảo trì, và cấp phép cho cơ sở xử lý bùn lắng.
 
Bộ Môi trường và Bộ Ðất đai, Cơ sở hạ tầng và Giao thông chịu trách nhiệm giám sát luật về các nội dung sau:
 
Bộ Môi trường giám sát luật:
 
*   Bảo trì và xử lý bùn lắng (trách nhiệm thực hiện của chủ hộ)
*   Kiểm tra chất lượng nước hàng năm (trách nhiệm thực hiện của chủ hộ thông qua thanh tra độc lập do Bộ môi trường chỉ định)
*   Nhân viên bảo trì (chủ hộ có thể thuê)
*   Cấp phép cho cơ sở xử lý bùn lắng.
 
Bộ Ðất đai, Cơ sở hạ tầng và Giao thông giám sát luật:
 
*   Lắp đặt JKS (trách nhiệm thực hiện của chủ hộ)
*   Sản xuất JKS
*   Nhân viên lắp đặt JKS (chủ hộ có thể thuê)
*   Ðăng ký nhân viên lắp đặt JKS
*   Qui cách và vị trí thải
 
Chính sách hỗ trợ cho việc mua và lắp đặt cho JKS như sau. Chủ hộ chịu 60% tổng chi phí; chính quyền địa phương hỗ trợ 27%; chính phủ hỗ trợ 13%. Tuy nhiên chủ hộ ở  những vùng xúc tiến đặc biệt, có thể được hỗ trợ tới 90%.
 
Về đào tạo nhân lực, chính phủ thành lập “Trung tâm giáo dục vệ sinh môi trường” là một viện nghiên cứu và giáo dục chuyên nghiệp về Johkasou (JKS). Trung tâm đào tạo cán bộ kỹ thuật và phát triển công nghệ phục vụ lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng JKS. Trung tâm cung cấp thông tin cho các nhà quản lý trong việc ban hành tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật JKS. Trung tâm tham gia vào các hoạt động lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, khử bùn và thanh tra các hệ thống JKS.

2. Khả năng áp dụng tại Việt Nam
 
Cơ sở pháp lý
 
Theo Thông tư số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT, ngày 18/12/2003, nước thải sinh hoạt được quy định như sau:
Nước thải sinh hoạt là nước thải ra môi trường từ:
 
*   Hộ gia đình;
*   Cơ quan nhà nước;
*   Ðơn vị vũ trang nhân dân;
*   Trụ sở điều hành, chi nhánh, văn phòng của các tổ chức, cá nhân;
*   Các cơ sở rửa ô tô, xe máy;
*   Bệnh viện; phòng khám chữa bệnh; nhà hàng, khách sạn; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác;
Khối lượng nước thải sinh hoạt được tính bằng mức nước sạch tiêu thụ.
 
Khoản 1, Ðiều 81 của Luật bảo vệ môi trường (số 52/2005/QH11, ngày 29/11/2005) nêu: “Ðô thị, khu dân cư tập trung phải có hệ thống thu gom riêng nước mưa và nước thải; nước thải sinh hoạt phải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi đưa vào môi trường”.
 
 
Tuy đã có cơ sở pháp lý (Luật và Tiêu chuẩn môi trường đối với nước thải sinh hoạt), song hiện trạng nước thải sinh hoạt và xử lý nước thải đang là vấn đề cấp bách cần được đặt ra để từng bước cải thiện tình hình.
 
Tại một số các thành phố lớn, thị xã và thị trấn chỉ một số khu vực dân cư có hệ thống cống rãnh thải nước thải sinh hoạt song hệ thống này thường dùng chung với hệ thống thoát nước mưa thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên hoặc ao hồ hoặc sông suối hoặc thải ra biển. Hầu như không có hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải sinh hoạt riêng biệt.
 
Một ví dụ điển hình là thành phố Hà Nội. Theo số liệu thống kê mới đây, trung bình một ngày Hà Nội thải 458000 m3 nước thải, trong đó 41% là nước thải sinh hoạt, 57% nước thải công nghiệp, 2% nước thải bệnh viện. Chỉ có khoảng 4% nước thải được xử lý. Phần lớn nước thải không được xử lý đổ vào các sông Tô Lịch và Kim Ngưu gây ô nhiễm nghiêm trọng 2 con sông này và các khu vực dân cư dọc theo sông. Theo số liệu đo vào tháng 8/2002, BOD tại sông Kim Ngưu cao tới 92,4 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn cho phép tới 9 lần. Hồ cá và cá tại hai quận Hoàng Mai và Thanh Trì đã bị ô nhiễm nặng do lấy nước từ 2 con sông nêu trên. Số liệu thống kê cho thấy toàn lưu vực đang có khoảng 26.300 giường bệnh (trong đó Hà Nội chiếm tới 47%) thuộc hơn 1.400 cơ sở y tế, với lượng nước thải y tế ước tính khoảng hơn 10.000m3/ngày và nước thải bệnh viện không hề được xử lý mà đổ thằng vào các dòng sông.
 
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Ðà Nẵng, Nam Ðịnh, Hải Dương... nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP.

Tại các vùng nông thôn, các cụm dân cư (làng, xã) tình hình vệ sinh môi trường còn đáng lo ngại hơn. Phần lớn các gia đình không có nhà xí hợp vệ sinh. Hầu hết nước thải sinh hoạt thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên.
 
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn E. coliform trung bình biến đổi từ 1.500- 3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800- 12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu.
 
Việc thu gom và xử lý nước thải tập trung đang còn gặp nhiều bất cập và hạn chế. Công tác xử lý nước thải chưa được đẩy mạnh, tại một số đô thị cũng có xây dựng một số trạm xử lý nước thải  cục bộ cho các bệnh viện như (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Huế, Ðà Nẵng...) nhưng do nhiều nguyên nhân  như thiết kế, vận hành, bảo dưỡng, không có kinh phí... mà nhiều trạm xử lý sau một thời gian ngắn hoạt động đã xuống cấp và ngừng hoạt động.
 
Ngoài ra, việc thu gom và xử lý nước thải tập trung còn có một số hạn chế sau:
 
*   Chi phí đầu tư hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải cũng như chi phí vận hành và bảo trì rất cao (trong đó 70% chi phí cho việc lắp đặt đường ống). Ví dụ, ở Nhật chi phí này khoảng 12-16 triệu USD/người;
*   Tiêu tốn nhiều nước để rửa trôi và vận chuyển;
*   Dễ gây ô nhiễm nước ngầm do đường ống bị rò rỉ, khó kiểm tra;
*   Nước chưa được xử lý thu gom tại trạm xử lý dễ gây ô nhiễm môi trường và nước mặt;
*   Thậm chí sau khi xử lý, trạm xử lý hiện đại vẫn có thể tồn đọng các chất hoạt động sinh học như hócmôn và kháng sinh;
*   Khối lượng bùn lắng sau xử lý là rất lớn.

Ðề xuất giải pháp
 
Với vấn đề hiện trạng của nước thải sinh hoạt vừa nêu, các hạn chế của việc thu gom và xử lý nươc thải tập trung, và các ứng dụng tích cực của Johkasou của Nhật Bản, đề nghị có một cơ cấu nghiên cứu, biện pháp ứng dụng, và triển khai lắp đặt Johkasou tại Việt Nam, từng bước cải thiện chất lượng môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống.
 
Video JOHKASOU
Tất cả tin tức
Hỗ trợ trực tuyến
Mr.Việt - 0903427364
Mr.Tín - 0963045742
Mr. Việt - 0903427364
Tin mới cập nhật
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CỦA HACTRA.,JSC TRONG QUÝ 1 NĂM 2018
CÁC DỊCH VỤ NĂM 2017 CỦA HACTRA.,JSC
BỂ TÁCH MỠ DẠNG MODUN FRP
DÃY SẢN PHẨM JKS – xP QUY MÔ NHỎ
Cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia thiết kế, chế tạo công nghệ xử lý môi trường (Trích TCMT-T10 . . .)
Tin đọc nhiều
Bể lọc JOHKASOU – Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tại nguồn
Công ty Hactra
Giới thiệu về Johkasou
NƯỚC THẢI SINH HOẠT: HIỂM HỌA MÔI TRƯỜNG HÀNG ĐẦU TẠI VIỆT NAM
Cần xử lý nước thải ngay tại nguồn
Tin hoạt động của Hactra
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CỦA HACTRA.,JSC TRONG QUÝ 1 NĂM 2018
Cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia thiết kế, chế tạo công nghệ xử lý môi trường (Trích TCMT-T10 . . .)
Xử lý nước thải độc hại cao bằng công nghệ ABR-BioF
Chuyển giao công nghệ lắp ráp thiết bị xử lý chất thải sinh hoạt tại nguồn JOHKASOU của NHẬT BẢN tại VIỆT NAM
Hactra., JSC đề xuất phát triển việc sử dụng thiết bị JOHKASOU ở Hà Nội.
Văn bản luật
Văn bản pháp quy
 
 
         
Bản quyền thuộc về Công ty HACTRA.,JSC.
Developer by PLtechcom